Bảng cân đối kế toán là báo cáo cho thấy, tại một thời điểm, công ty sở hữu gì (tài sản), nợ gì (nợ phải trả) và phần nào thuộc về cổ đông (vốn chủ sở hữu).
Ví như: Tấm ảnh chụp ví tiền và các khoản nợ của công ty vào một ngày.
Ví dụ thực tế: Bảng cân đối kế toán của Apple vào tháng 9/2024: khoảng 365 tỷ USD tài sản = 308 tỷ USD nợ phải trả + 57 tỷ USD vốn chủ sở hữu.
Bảng lương phi nông nghiệp (NFP) là số liệu hằng tháng về số việc làm tăng thêm tại Mỹ, không tính khu vực nông nghiệp. Số liệu này được công bố vào Thứ Sáu đầu tiên của hầu hết các tháng, lúc 8h30 (giờ New York), và là một trong những tin tác động mạnh nhất đến thị trường.
Ví như: Buổi khám sức khỏe hằng tháng của thị trường việc làm Mỹ.
Ví dụ thực tế: Tháng 7/2024, Mỹ có thêm 114.000 việc làm trong khi dự báo là 175.000, và chứng khoán giảm điểm.
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo thể hiện doanh thu, chi phí và lợi nhuận của một công ty trong một kỳ.
Ví như: Bảng điểm của công ty trong quý.
Ví dụ thực tế: Báo cáo kết quả kinh doanh của Microsoft cho năm tài chính kết thúc vào tháng 6/2024 cho thấy doanh thu khoảng 245 tỷ USD và lợi nhuận ròng 88 tỷ USD.
Báo cáo thường niên là tài liệu công ty niêm yết phát hành hằng năm để trình bày kết quả kinh doanh, rủi ro và kế hoạch, kèm báo cáo tài chính đã được kiểm toán.
Ví như: Cuốn kỷ yếu của công ty.
Ví dụ thực tế: Các công ty Mỹ nộp báo cáo thường niên theo mẫu gọi là 10-K; công ty niêm yết ở Indonesia đăng báo cáo này trên trang web của Sở Giao dịch Chứng khoán Indonesia (IDX).
Bảo hiểm là hình thức bạn đóng một khoản phí định kỳ (phí bảo hiểm) để công ty bảo hiểm chi trả những chi phí lớn khi có chuyện không may xảy ra, như ốm đau hay tai nạn.
Ví như: Cả lớp mỗi người bỏ một đồng xu vào hũ, bạn nào bị mất xe đạp sẽ được đền bằng tiền trong hũ.
Ví dụ thực tế: Bảo hiểm y tế quốc gia của Indonesia, BPJS Kesehatan, thu tiền đóng hằng tháng của người tham gia và chi trả chi phí điều trị tại bệnh viện trong phạm vi bảo hiểm.
Bảo hiểm tiền gửi là cơ chế của nhà nước trả lại tiền cho người gửi tiền, trong một hạn mức nhất định, nếu ngân hàng đổ vỡ.
Ví như: Tấm lưới an toàn bên dưới khoản tiết kiệm ở ngân hàng.
Ví dụ thực tế: FDIC của Mỹ bảo hiểm tối đa 250.000 USD cho mỗi người gửi tại mỗi ngân hàng; mức này ở các nước EU là 100.000 euro, còn LPS của Indonesia là 2 tỷ rupiah.
Biểu đồ dot plot là biểu đồ do Fed công bố bốn lần mỗi năm, trong đó mỗi quan chức đánh một dấu chấm ở mức lãi suất mà mình dự kiến trong thời gian tới.
Ví như: Mỗi trọng tài ghi ra tỷ số chung cuộc mà mình dự đoán.
Ví dụ thực tế: Tháng 12/2024, các chấm trên biểu đồ cho thấy số lần hạ lãi suất trong năm 2025 ít hơn trước, và chứng khoán giảm khoảng 3% ngay trong ngày.
Blockchain (chuỗi khối) là sổ cái số dùng chung, ghi lại các giao dịch và được sao chép trên nhiều máy tính, nên khó sửa những dữ liệu đã ghi trước đó.
Ví như: Cuốn sổ chung của lớp mà học sinh nào cũng giữ một bản giống hệt.
Ví dụ thực tế: Mọi giao dịch chuyển Bitcoin từ tháng 1/2009 đến nay đều được ghi trên blockchain của Bitcoin, sao chép trên hàng nghìn máy tính.
Bóng nến (râu nến) là đường mảnh nằm phía trên hoặc phía dưới thân nến. Bóng nến cho thấy những mức giá đã chạm tới nhưng không giữ được đến lúc đóng cửa.
Ví như: Dấu chân cho thấy giá đã ghé qua đâu trước khi quay về.
Ví dụ thực tế: Bóng dưới dài nghĩa là phe bán đã đẩy giá xuống, nhưng phe mua lại kéo giá ngược lên.
Cán cân thương mại là giá trị xuất khẩu trừ đi giá trị nhập khẩu của một quốc gia. Thặng dư đưa tiền từ nước ngoài vào trong nước, còn thâm hụt khiến tiền chảy ra nước ngoài.
Ví như: Két tiền của cửa hàng: tiền bán hàng thu vào trừ đi tiền chi ra để nhập hàng.
Ví dụ thực tế: Đức và Trung Quốc thường có thặng dư thương mại lớn, còn Mỹ thường thâm hụt thương mại.
Cán cân vãng lai là tổng hợp hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ và các dòng thu nhập giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Thâm hụt nghĩa là tiền chảy ra nhiều hơn tiền chảy vào.
Ví như: Tiền vào, tiền ra giữa một hộ gia đình và cả khu phố.
Ví dụ thực tế: Thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài có thể gây áp lực lên đồng tiền, như trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ năm 2018.
Carry trade (giao dịch chênh lệch lãi suất) là chiến lược vay bằng đồng tiền có lãi suất thấp để đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao hơn, hưởng phần chênh lệch. Khi thị trường hoảng loạn, các vị thế carry trade có thể bị đóng ồ ạt và dữ dội.
Ví như: Mượn xe đạp của chị gái không mất đồng nào, rồi cho bạn thuê lại để lấy tiền.
Ví dụ thực tế: Khi đồng yên tăng vọt đầu tháng 8/2024, các nhà giao dịch đổ xô trả các khoản vay bằng yên và chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản giảm 12% trong ngày 5/8.
Cặp tiền là hai đồng tiền được yết giá cùng nhau, ví dụ EUR/USD. Giá cho biết cần bao nhiêu đơn vị đồng tiền thứ hai để mua một đơn vị đồng tiền thứ nhất.
Ví như: Chiếc bập bênh: bên này lên thì bên kia xuống.
Ví dụ thực tế: USD/JPY ở mức 150 nghĩa là 1 USD đổi được 150 yên Nhật.
Chỉ báo MACD (Moving Average Convergence Divergence, đường trung bình động hội tụ phân kỳ) là chỉ báo được tạo từ một đường trung bình động nhanh và một đường chậm (thường là 12 và 26 kỳ), dùng để nhận biết khi động lượng chuyển hướng.
Ví như: Hai người chạy đua: hãy để ý ai đang tăng tốc.
Ví dụ thực tế: Khi đường MACD cắt lên trên đường tín hiệu, nhiều nhà giao dịch hiểu đó là dấu hiệu động lượng đang chuyển sang tăng.
Chỉ báo RSI (Relative Strength Index, chỉ số sức mạnh tương đối) là thước đo từ 0 đến 100, so sánh độ lớn của các nhịp tăng và các nhịp giảm gần đây, thường tính trên 14 cây nến gần nhất.
Ví như: Đồng hồ tốc độ của giá.
Ví dụ thực tế: RSI ở mức 75 nghĩa là các nhịp tăng gần đây lớn hơn nhiều so với các nhịp giảm: phe mua đang chiếm ưu thế.
Chỉ số chứng khoán là một con số theo dõi giá tổng hợp của một nhóm cổ phiếu, giúp bạn thấy cả thị trường đó đang diễn biến ra sao.
Ví như: Điểm trung bình của cả lớp thay vì điểm của một học sinh.
Ví dụ thực tế: Chỉ số FTSE 100 theo dõi 100 công ty lớn của Anh, chỉ số Nifty 50 của Ấn Độ theo dõi 50 công ty, còn chỉ số S&P/BMV IPC của Mexico theo dõi khoảng 35 công ty.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số chính thức theo dõi giá của một giỏ hàng hóa và dịch vụ tiêu biểu. Mức thay đổi của CPI trong 12 tháng chính là tỷ lệ lạm phát.
Ví như: Danh sách đi chợ được kiểm giá lại hằng tháng.
Ví dụ thực tế: CPI của Mỹ được công bố hằng tháng lúc 8h30 sáng theo giờ New York. Chi phí nhà ở chiếm khoảng một phần ba giỏ hàng tính CPI.
Chỉ số P/B (PBV) là giá cổ phiếu chia cho giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu). P/B dưới 1 nghĩa là thị trường định giá công ty thấp hơn giá trị kế toán.
Ví như: Mua một cửa hàng với giá cao hơn hoặc thấp hơn giá trị hàng hóa và tiền mặt ghi trên giấy tờ.
Ví dụ thực tế: Cổ phiếu giá 20 USD, giá trị sổ sách 10 USD thì có P/B bằng 2.
Chỉ số P/E (Price-to-Earnings, giá trên lợi nhuận) là giá cổ phiếu chia cho lợi nhuận một năm trên mỗi cổ phiếu. Chỉ số này cho biết nhà đầu tư trả bao nhiêu cho mỗi 1 USD lợi nhuận.
Ví như: Số năm lợi nhuận bạn trả trước một lần để mua cả doanh nghiệp.
Ví dụ thực tế: Cổ phiếu giá 100 USD, lợi nhuận 5 USD trên mỗi cổ phiếu, có P/E bằng 20.
Chỉ số S&P 500 là chỉ số gồm khoảng 500 công ty lớn của Mỹ, công ty càng lớn thì tỷ trọng càng cao. Đây là một trong những chỉ số chứng khoán được theo dõi nhiều nhất thế giới.
Ví như: Bảng tỷ số của giới doanh nghiệp Mỹ.
Ví dụ thực tế: Apple, Microsoft và Nvidia đều nằm trong chỉ số S&P 500.
Chia tách cổ phiếu là khi công ty chia mỗi cổ phiếu thành nhiều cổ phiếu có giá thấp hơn. Tổng giá trị bạn nắm giữ không đổi.
Ví như: Cắt chiếc pizza thành nhiều miếng hơn: vẫn là chiếc pizza đó.
Ví dụ thực tế: Tháng 6/2024, Nvidia chia tách cổ phiếu theo tỷ lệ 1 thành 10: một cổ phiếu giá khoảng 1.200 USD trở thành mười cổ phiếu, mỗi cổ phiếu khoảng 120 USD.
Chính sách tài khóa là cách chính phủ dùng chi tiêu và thuế để tác động đến nền kinh tế. Chính sách này do chính phủ đặt ra, còn chính sách tiền tệ do ngân hàng trung ương quyết định.
Ví như: Vô lăng của chính phủ, nằm cạnh bàn đạp phanh của ngân hàng trung ương.
Ví dụ thực tế: Trợ giá nhiên liệu và chi tiêu cho hạ tầng đều là chính sách tài khóa.
Chính sách tiền tệ là các biện pháp ngân hàng trung ương dùng để tác động đến lạm phát và tăng trưởng, chủ yếu bằng cách thay đổi lãi suất và lượng tiền trong hệ thống.
Ví như: Đạp phanh hoặc nhấn ga cho nền kinh tế.
Ví dụ thực tế: Trong hai năm 2022 và 2023, Fed nâng lãi suất từ gần 0% lên trên 5% để hạ nhiệt lạm phát: đó là chính sách tiền tệ “thắt chặt”.
Cổ phiếu (stock, còn gọi là share) là một phần nhỏ quyền sở hữu trong một công ty. Nếu công ty tăng được lợi nhuận, cổ phiếu có thể tăng giá trị.
Ví như: Công ty là chiếc bánh pizza, còn bạn sở hữu một miếng.
Ví dụ thực tế: Ở Indonesia, cổ phiếu được giao dịch theo lô 100 cổ phiếu: mua một lô của một ngân hàng niêm yết là bạn sở hữu 100 phần nhỏ xíu của ngân hàng đó.
Cổ phiếu penny là cổ phiếu giá rất thấp, thường của công ty nhỏ và ít được giao dịch. Giá có thể biến động dữ dội và dễ bị thao túng hơn.
Ví như: Tấm vé số khoác áo khoản đầu tư.
Ví dụ thực tế: Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ (SEC) xếp phần lớn cổ phiếu giao dịch dưới 5 USD vào nhóm cổ phiếu penny; chỉ một lượng tiền nhỏ cũng đủ khiến giá tăng vọt hoặc lao dốc.
Công cụ phái sinh là hợp đồng tài chính có giá trị bắt nguồn từ một tài sản khác, như cổ phiếu, tiền tệ hoặc hàng hóa. Hợp đồng tương lai và quyền chọn đều là công cụ phái sinh.
Ví như: Cược vào một món đồ, chứ không phải sở hữu chính món đồ đó.
Ví dụ thực tế: CFD vàng tăng giảm theo giá vàng, nhưng bạn không hề sở hữu một gram vàng nào.
Cơ quan quản lý tài chính là cơ quan nhà nước cấp phép và giám sát các công ty tài chính để bảo vệ công chúng, như FCA (Anh), SEC (Mỹ), OJK (Indonesia), SEBI (Ấn Độ) hay CNBV (Mexico).
Ví như: Trọng tài có quyền rút thẻ đỏ.
Ví dụ thực tế: Trước khi nạp tiền, hãy tra tên nhà môi giới trong danh sách cấp phép của cơ quan quản lý tại nước bạn.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) là ngân hàng trung ương của Mỹ. Vì đồng USD được dùng trên khắp thế giới, các quyết định của Fed tác động đến thị trường ở mọi nơi.
Ví như: Hiệu trưởng của ngôi trường lớn nhất thế giới.
Ví dụ thực tế: Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC), bộ phận quyết định lãi suất của Fed, họp 8 lần mỗi năm.
Cung tiền là tổng lượng tiền đang lưu thông trong một nền kinh tế. Cung tiền tăng nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể đẩy lạm phát lên.
Ví như: Đổ thêm nước vào cùng một nồi canh.
Ví dụ thực tế: Zimbabwe năm 2008 và Venezuela cuối thập niên 2010 rơi vào siêu lạm phát sau những đợt in tiền ồ ạt.
Cung và cầu là quy luật quyết định giá cả: giá tăng khi người mua muốn mua nhiều hơn lượng hàng người bán đưa ra, và giảm khi hàng chào bán nhiều hơn lượng người mua cần.
Ví như: Vé ca nhạc: ít ghế, đông người hâm mộ, giá vé cao.
Ví dụ thực tế: Trước lễ Eid, Giáng sinh hay lễ Diwali, các chuyến bay kín chỗ và giá vé tăng vọt.
Dải Bollinger (Bollinger Bands) là hai dải vẽ phía trên và phía dưới một đường trung bình động, cách đường này một khoảng tính theo độ biến động gần đây. Hai dải nới rộng khi thị trường biến động mạnh.
Ví như: Hai hàng lan can co giãn chạy dọc hai bên giá.
Ví dụ thực tế: Khi hai dải co hẹp lại, giá thường sắp có một nhịp biến động lớn.
Dầu cọ thô (CPO) là dầu cọ chưa tinh chế, dùng làm dầu ăn, thực phẩm và nhiên liệu sinh học. Indonesia và Malaysia sản xuất phần lớn lượng dầu cọ của thế giới.
Ví như: Thành phần ẩn trong mì ăn liền, bánh quy, xà phòng và dầu gội.
Ví dụ thực tế: Từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5/2022, Indonesia cấm xuất khẩu dầu cọ để kéo giá dầu ăn trong nước xuống.
Diều hâu (hawkish) là lập trường nghiêng về lãi suất cao hơn để chống lạm phát. Bồ câu (dovish) là lập trường nghiêng về lãi suất thấp hơn để hỗ trợ việc làm và tăng trưởng.
Ví như: Hai huấn luyện viên: một người lo đội “quá nóng”, người kia lo đội hết hơi.
Ví dụ thực tế: Năm 2022, Chủ tịch Fed Jerome Powell nói: “Chúng tôi sẽ kiên trì cho đến khi chắc chắn đã hoàn thành nhiệm vụ.” Đó là phát biểu mang giọng diều hâu.
Ví dụ thực tế: Trong đợt “Taper Tantrum” năm 2013, dòng tiền rút khỏi các thị trường mới nổi như Ấn Độ, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ và Indonesia, và đồng tiền của các nước này mất giá.
Dự báo và thực tế là hai con số trên lịch kinh tế: dự báo (hay mức đồng thuận) là con số các nhà kinh tế dự kiến, còn thực tế là con số được công bố. Thị trường phản ứng theo khoảng chênh giữa hai con số, tức yếu tố bất ngờ.
Ví như: Điểm thi thật so với điểm mà mọi người đoán trước.
Ví dụ thực tế: Dự báo 7,9%, thực tế 7,7%: yếu tố bất ngờ từ số liệu CPI tháng 10/2022 của Mỹ đã đẩy chỉ số S&P 500 tăng 5,5%.
Đã phản ánh vào giá (priced in) là khi thị trường đã lường trước một sự kiện, nên giá dịch chuyển từ trước khi sự kiện xảy ra và bản thân tin tức gần như không gây phản ứng.
Ví như: Dự báo thời tiết từ tuần trước: đến hôm nay, ai cũng đã mang theo ô.
Ví dụ thực tế: Một lần Fed hạ lãi suất mà thị trường đã chắc đến 99% gần như không làm đồng USD nhúc nhích. Một lần hạ bất ngờ thì khác hẳn.
Đầu tư định kỳ (DCA) là phương pháp bỏ ra một số tiền cố định theo lịch đều đặn, bất kể giá bao nhiêu, nhờ đó bạn mua được nhiều hơn khi giá thấp và ít hơn khi giá cao.
Ví như: Mỗi tuần chi một khoản tiền như nhau để mua trái cây: táo rẻ thì được nhiều quả, táo đắt thì được ít hơn.
Ví dụ thực tế: Mua 200 USD chứng chỉ quỹ chỉ số mỗi lần nhận lương, bất kể giá tháng đó thế nào.
Đồng tiền cơ sở là đồng tiền đứng trước trong một cặp tiền, còn đồng tiền định giá là đồng tiền đứng sau: trong EUR/USD, EUR là đồng tiền cơ sở và USD là đồng tiền định giá. Giá cho biết cần bao nhiêu đồng tiền định giá để mua một đơn vị đồng tiền cơ sở.
Ví như: Món hàng bạn mua và loại tiền bạn dùng để trả.
Ví dụ thực tế: EUR/USD = 1,10 nghĩa là bạn trả 1,10 USD cho 1 euro.
Đường cong lợi suất là đường nối lợi suất trái phiếu từ kỳ hạn ngắn đến kỳ hạn dài. Khi lợi suất ngắn hạn cao hơn lợi suất dài hạn (đường cong đảo ngược), kinh tế Mỹ thường rơi vào suy thoái sau đó.
Ví như: Bản dự báo thời tiết do thị trường trái phiếu vẽ ra.
Ví dụ thực tế: Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 2 năm vượt lên trên lợi suất kỳ hạn 10 năm vào tháng 7/2022 và duy trì như vậy đến tháng 9/2024, đợt đảo ngược dài nhất từng được ghi nhận.
Đường trung bình động (MA) là giá đóng cửa trung bình của một số cây nến gần nhất, vẽ thành một đường mượt trên biểu đồ. Giá nằm trên một đường MA đang đi lên thường báo hiệu xu hướng tăng.
Ví như: Điểm tổng kết của năm bài kiểm tra gần nhất: một bài điểm kém chỉ kéo điểm tổng kết xuống chút ít.
Ví dụ thực tế: Đường MA 20 ngày lấy trung bình giá đóng cửa của 20 ngày gần nhất.
Giá Bid là giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả ngay lúc này, còn giá Ask là giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chấp nhận. Khoảng chênh giữa hai mức giá này là spread.
Ví như: Hai bảng giá mua và bán ở quầy đổi tiền.
Ví dụ thực tế: EUR/USD có giá Bid 1,1248 và giá Ask 1,1250. Người bán nhận giá Bid (giá bán ra), người mua trả giá Ask (giá mua vào).
Giá mở cửa, giá cao nhất, giá thấp nhất và giá đóng cửa (OHLC) là bốn mức giá trong mỗi cây nến: giá lúc đầu kỳ, mức cao nhất và thấp nhất mà giá chạm tới, và giá lúc cuối kỳ.
Ví như: Bản tóm tắt một cuộc đua: bạn xuất phát ở đâu, lúc tốt nhất và tệ nhất ra sao, và về đích ở đâu.
Ví dụ thực tế: Giá dầu mở cửa tuần ở 90 USD, lên tới 96 USD, lùi về 88 USD rồi đóng cửa ở 94 USD.
Giảm phát là tình trạng giá cả giảm chung trên toàn bộ nền kinh tế. Nghe thì có vẻ tốt, nhưng giảm phát thường đồng nghĩa với nhu cầu yếu và nhiều người mất việc.
Ví như: Cửa hàng hạ giá vì không ai mua.
Ví dụ thực tế: Ở Nhật Bản, giá cả giảm hoặc gần như đứng yên trong hầu hết các năm từ cuối thập niên 1990 đến đầu thập niên 2010.
Giao cắt vàng (Golden Cross) là khi đường trung bình động 50 kỳ cắt lên trên đường trung bình động 200 kỳ, thường được xem là tín hiệu tăng giá dài hạn.
Ví như: Điểm trung bình tháng này vượt lên trên điểm trung bình cả năm.
Ví dụ thực tế: Trường hợp ngược lại, đường 50 kỳ cắt xuống dưới đường 200 kỳ, được gọi là giao cắt tử thần (Death Cross).
Giao dịch (trading) là mua và bán tài sản trong thời gian ngắn hơn, từ vài phút đến vài tuần, để kiếm lời từ biến động giá.
Ví như: Đón từng con sóng thay vì trồng cây.
Ví dụ thực tế: Mua EUR/USD vào Thứ Hai vì bạn kỳ vọng đồng euro tăng vọt sau quyết định của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vào Thứ Năm, rồi bán ra vào Thứ Sáu.
Giao dịch trả thù là giao dịch với khối lượng lớn hơn hoặc dồn dập hơn ngay sau một lần thua lỗ để gỡ lại tiền. Đây là một trong những cách nhanh nhất để mất sạch tiền trong tài khoản.
Ví như: Đuổi theo chiếc xe buýt vừa tạt nước bẩn vào người bạn.
Ví dụ thực tế: Ba lệnh thua khiến một nhà giao dịch lỗ 3%. Để “gỡ lại”, người này nhân đôi khối lượng hai lần liên tiếp, thua cả hai lệnh và kết thúc ngày với mức lỗ 9%.
Giao dịch trong ngày (day trading) là mua và bán trong cùng một ngày, đóng toàn bộ vị thế trước khi thị trường đóng cửa.
Ví như: Chạy những vòng đua ngắn, chứ không đi những chuyến đường dài.
Ví dụ thực tế: Một nghiên cứu về những người giao dịch trong ngày tại Brazil từ năm 2013 đến 2015 cho thấy trong số những người bám trụ hơn 300 ngày, 97% bị thua lỗ.
Hiệu ứng ngược hướng (disposition effect) là thói quen bán các vị thế đang lãi quá sớm và giữ các vị thế đang lỗ quá lâu.
Ví như: Nhổ hoa đi rồi tưới nước cho cỏ dại.
Ví dụ thực tế: Một nghiên cứu năm 1998 trên 10.000 tài khoản môi giới tại Mỹ cho thấy nhà đầu tư chịu bán cổ phiếu đang lãi dễ hơn khoảng 50% so với cổ phiếu đang lỗ.
Hợp đồng chênh lệch (CFD, viết tắt của Contract for Difference) là thỏa thuận giữa bạn và nhà môi giới để thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá của một tài sản mà không cần sở hữu tài sản đó. CFD thường được giao dịch với đòn bẩy.
Ví như: Thuê biến động giá thay vì mua món đồ thật.
Ví dụ thực tế: CFD vàng cho phép bạn bán (short) vàng với 200 USD tiền ký quỹ. Bạn trả phí qua đêm cho mỗi đêm giữ lệnh.
Hợp đồng tương lai là thỏa thuận mua hoặc bán một tài sản với mức giá cố định vào một ngày trong tương lai. Công cụ này được dùng để phòng hộ rủi ro và đầu cơ.
Ví như: Chốt giá của ngày mai ngay từ hôm nay.
Ví dụ thực tế: Doanh nghiệp xuất khẩu dầu cọ có thể bán hợp đồng tương lai để chốt giá trước vụ thu hoạch.
Khối lượng giao dịch là số cổ phiếu, hợp đồng hoặc đơn vị được mua bán trong một khoảng thời gian.
Ví như: Số người đi bỏ phiếu. Kết quả có nhiều phiếu hơn thì thuyết phục hơn.
Ví dụ thực tế: Một cổ phiếu nhỏ tăng 20% trong khi chỉ lác đác vài cổ phiếu được khớp thì kém thuyết phục hơn một đợt tăng với khối lượng giao dịch lớn.
Khung thời gian là khoảng thời gian mà một cây nến thể hiện. Các khung thời gian phổ biến: 1 giờ, 1 ngày (khung ngày), 1 tuần (khung tuần), 1 tháng (khung tháng).
Ví như: Phóng to, thu nhỏ bản đồ: vẫn con đường đó, chỉ khác mức chi tiết.
Ví dụ thực tế: Một cú giảm mạnh trên khung ngày có thể chỉ là một nhịp giảm nhẹ trên khung tháng.
Kỳ vọng lợi nhuận là số tiền trung bình một phương pháp giao dịch kiếm được trên mỗi lệnh: (tỷ lệ thắng × mức lãi trung bình) trừ (tỷ lệ thua × mức lỗ trung bình).
Ví như: Điểm trung bình mỗi trận tính trên cả một mùa giải.
Ví dụ thực tế: Gọi R là số tiền bạn chịu rủi ro cho mỗi lệnh. Nếu thắng 40% số lệnh với mức lãi 2R và thua 60% với mức lỗ 1R, trung bình mỗi lệnh mang về +0,2R.
Lạm phát lõi là lạm phát sau khi loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, hai nhóm hay biến động thất thường. Ngân hàng trung ương theo dõi con số này để nhìn ra xu hướng nền.
Ví như: Bước lên cân sau khi đã cởi chiếc áo khoác mùa đông dày cộp.
Ví dụ thực tế: CPI lõi của Mỹ tháng 10/2022 ở mức 6,3%, thấp hơn mức dự báo 6,5%.
Lệnh dừng (stop order) là lệnh tự chuyển thành lệnh thị trường ngay khi giá chạm mức bạn đặt. Lệnh Buy Stop đặt phía trên giá hiện tại, còn lệnh Sell Stop đặt phía dưới.
Ví như: Sợi dây bẫy kích hoạt lệnh của bạn ngay khi giá giẫm lên.
Ví dụ thực tế: Lệnh Buy Stop đặt ở 105 USD sẽ bắt được nhịp phá vỡ vượt ngưỡng kháng cự 104 USD.
Lợi suất là thu nhập hằng năm mà một khoản đầu tư mang lại, tính bằng phần trăm so với giá của khoản đầu tư đó. Với trái phiếu, khi giá giảm thì lợi suất tăng.
Ví như: Mức lãi bạn thực nhận nếu mua ở giá hôm nay.
Ví dụ thực tế: Trái phiếu giá 100 trả 6 mỗi năm có lợi suất 6%. Nếu giá giảm còn 80, khoản 6 ấy tương đương lợi suất 7,5%.
Lừa đảo đầu tư là mô hình hứa hẹn lợi nhuận cao, chắc chắn hoặc nhanh chóng, thường lấy tiền của người mới để trả cho người cũ.
Ví như: Lá thư dây chuyền: người vào trước được trả bằng tiền của người vào sau, cho đến khi hết người mới.
Ví dụ thực tế: Những lời hứa như “lãi 10% mỗi tháng, đảm bảo” là dấu hiệu cảnh báo kinh điển. Hãy kiểm tra danh sách công ty được cấp phép và danh sách cảnh báo của cơ quan quản lý.
Lương hưu là khoản thu nhập để sống sau khi bạn nghỉ làm, được chi trả từ tiền tiết kiệm tích lũy trong suốt thời gian đi làm, từ chương trình hưu trí của chủ lao động hoặc từ nhà nước.
Ví như: Món quà bạn của tuổi trẻ gửi cho bạn của tuổi già.
Ví dụ thực tế: Ở Anh, cơ chế tự động tham gia (auto-enrolment) đưa ít nhất 8% thu nhập đủ điều kiện vào quỹ hưu trí nơi làm việc, trong đó chủ lao động đóng ít nhất 3%.
Margin call (lệnh gọi ký quỹ) là cảnh báo của nhà môi giới, hoặc việc nhà môi giới buộc đóng lệnh, khi khoản lỗ ăn dần vào tiền ký quỹ. Theo quy định ở EU, Anh và Úc, lệnh CFD của khách hàng cá nhân sẽ bị đóng khi tài sản ròng (Equity) giảm xuống còn một nửa mức ký quỹ yêu cầu.
Ví như: Điện thoại báo “pin yếu” trước khi tự tắt nguồn.
Ví dụ thực tế: Tháng 3/2021, công ty đầu tư Archegos dính hàng loạt margin call, kéo theo các đợt bán tháo bắt buộc, và các ngân hàng lỗ hơn 10 tỷ USD.
Mô hình hai đỉnh và hai đáy hình thành khi giá chạm cùng một mức cao hai lần nhưng không vượt qua được (hai đỉnh), hoặc chạm cùng một mức thấp hai lần và trụ vững (hai đáy).
Ví như: Gõ hai lần vào cánh cửa đã khóa.
Ví dụ thực tế: Mô hình hai đáy gần vùng hỗ trợ là tín hiệu đảo chiều kinh điển.
Mua trước trả sau (BNPL) là hình thức tín dụng ngắn hạn được cung cấp ngay lúc thanh toán, thường trên các ứng dụng mua sắm. Trả trễ hạn sẽ bị tính thêm phí và có thể làm xấu lịch sử tín dụng.
Ví như: Cửa hàng cho bạn mang đồ về nhà, đến tháng sau mới tính tiền.
Ví dụ thực tế: Ở Indonesia, nợ paylater được ghi nhận trong hệ thống thông tin tín dụng (SLIK) của OJK, nên trả trễ hạn có thể khiến bạn khó vay mua nhà hơn sau này.
Nến Búa (Hammer) là cây nến có thân nhỏ nằm gần đỉnh và bóng dưới dài, xuất hiện sau một đợt giảm giá. Phe bán đã đẩy giá xuống, nhưng đến lúc đóng cửa thì phe mua giành lại quyền kiểm soát.
Ví như: Quả bóng rơi xuống sàn rồi nảy thẳng lên.
Ví dụ thực tế: Nến Búa xuất hiện tại ngưỡng hỗ trợ là dấu hiệu kinh điển cho thấy phe mua đang nhảy vào.
Nến Doji là cây nến có giá mở cửa và giá đóng cửa gần như bằng nhau, nên thân nến rất nhỏ. Phe mua và phe bán kết thúc trong thế giằng co, chưa bên nào thắng thế.
Ví như: Một trận kéo co kết thúc đúng ở vạch xuất phát.
Ví dụ thực tế: Nến Doji xuất hiện sau một đà tăng dài có thể là dấu hiệu đầu tiên cho thấy đà tăng đang đuối sức.
Nến Nhật (nến) là một thanh trên biểu đồ thể hiện bốn mức giá trong một khoảng thời gian: giá mở cửa, giá đóng cửa, giá cao nhất và giá thấp nhất. Nến xanh nghĩa là giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa, nến đỏ nghĩa là thấp hơn.
Ví như: Một bức ảnh tóm gọn cả một ngày giao dịch (hoặc một tuần, một tháng).
Ví dụ thực tế: Trên biểu đồ giá vàng khung ngày, cây nến mở cửa ở 4.300 USD và đóng cửa ở 4.330 USD là nến xanh.
Ngân hàng trung ương là cơ quan nhà nước quản lý tiền tệ của một quốc gia, ấn định lãi suất điều hành và giám sát hệ thống thanh toán.
Ví như: Trọng tài của cuộc chơi tiền tệ.
Ví dụ thực tế: Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Indonesia (Bank Indonesia), Ngân hàng Trung ương Mexico (Banxico) và Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ.
Ngụy biện con bạc là niềm tin rằng một chuỗi kết quả sắp phải kết thúc vì đã kéo dài lâu, trong khi thực ra mỗi lần đều độc lập với nhau.
Ví như: Nghĩ rằng đồng xu “nợ” bạn một lần ngửa sau năm lần sấp liên tiếp.
Ví dụ thực tế: Năm 1913 tại Monte Carlo, vòng quay roulette ra màu đen 26 lần liên tiếp, và nhiều người chơi mất cả gia tài vì cứ đặt cửa đỏ, tin rằng màu đỏ “đến lượt phải ra”.
Ngưỡng kháng cự là mức giá mà trước đây đà tăng từng chững lại, vì người bán xuất hiện.
Ví như: Trần nhà mà giá từng cụng đầu vào.
Ví dụ thực tế: Giá vàng lập đỉnh gần 2.075 USD vào tháng 8/2020, một lần nữa chững lại quanh mức này vào năm 2023 và đến tháng 3/2024 mới vượt qua được.
Nhà môi giới (broker) là công ty được cấp phép, nơi bạn mua bán các sản phẩm đầu tư qua ứng dụng hoặc nền tảng giao dịch của công ty. Nhà môi giới kiếm tiền từ phí, hoa hồng hoặc spread.
Ví như: Người gác cổng vào thị trường.
Ví dụ thực tế: Hãy kiểm tra giấy phép của nhà môi giới trên trang web của cơ quan quản lý trước khi nạp tiền.
Niken là kim loại dùng để sản xuất thép không gỉ và pin xe điện. Năm 2024, Indonesia khai thác hơn một nửa nguồn cung niken của thế giới.
Ví như: Thành phần ẩn mình trong thìa, chảo nhà bạn và trong nhiều chiếc ô tô điện.
Ví dụ thực tế: Tháng 3/2022, giá niken tăng hơn gấp đôi chỉ trong hai ngày trên Sàn Giao dịch Kim loại London (LME), sau đó sàn tạm ngừng giao dịch niken trong một tuần.
Nới lỏng định lượng (QE) là chính sách ngân hàng trung ương tạo ra tiền mới để mua trái phiếu, qua đó kéo lãi suất dài hạn xuống để hỗ trợ nền kinh tế.
Ví như: Bơm thêm nhiên liệu vào động cơ đang chết máy.
Ví dụ thực tế: Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) lần đầu áp dụng QE vào năm 2001. Fed dùng QE sau khủng hoảng năm 2008 và một lần nữa vào năm 2020.
Phá vỡ (breakout) là khi giá vượt hẳn lên trên ngưỡng kháng cự hoặc rơi hẳn xuống dưới ngưỡng hỗ trợ, thường kèm khối lượng giao dịch lớn hơn bình thường.
Ví như: Xuyên qua trần nhà để lên tầng trên.
Ví dụ thực tế: Giá vàng vượt lên trên 2.100 USD vào tháng 3/2024 rồi tiếp tục leo dốc, đến tháng 10/2024 đã vượt 2.700 USD.
Phát hành quyền mua (rights issue) là khi công ty chào bán cổ phiếu mới cho cổ đông hiện hữu, thường với giá ưu đãi, để huy động vốn. Nếu bạn không mua, tỷ lệ sở hữu của bạn sẽ bị pha loãng.
Ví như: Công ty kêu gọi chính các chủ sở hữu góp thêm tiền.
Ví dụ thực tế: Năm 2021, Bank Rakyat Indonesia (BRI) huy động khoảng 96 nghìn tỷ rupiah (xấp xỉ 6,7 tỷ USD) qua đợt phát hành quyền mua.
Phí qua đêm (swap) là khoản phí (hoặc khoản tiền được cộng) tính hằng ngày khi bạn giữ một vị thế dùng đòn bẩy qua mốc chuyển phiên (rollover). Khoản này còn được gọi tắt là swap.
Ví như: Tiền thuê cho khoản tiền đi mượn, cứ sang ngày mới lại tính thêm một lần.
Ví dụ thực tế: Vị thế CFD mua (long) trị giá 10.000 USD với mức phí 7%/năm, mỗi đêm tốn khoảng 1,90 USD.
Quá mua và quá bán là hai trạng thái của chỉ báo RSI: trên 70 gọi là quá mua, dưới 30 gọi là quá bán. Hai trạng thái này báo hiệu giá vừa đi nhanh và có thể chững lại, chứ không đảm bảo giá sẽ đảo chiều.
Ví như: Một vận động viên đang chạy nước rút: có thể chậm lại, cũng có thể chạy tiếp.
Ví dụ thực tế: RSI có thể duy trì trên 70 suốt nhiều tuần trong một đà tăng mạnh.
Quỹ ETF (Exchange-Traded Fund, quỹ hoán đổi danh mục) là quỹ nắm giữ nhiều tài sản (thường là cả một chỉ số) và được giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán như một cổ phiếu đơn lẻ.
Ví như: Một phần combo: gọi một lần, được nhiều món.
Ví dụ thực tế: Một chứng chỉ quỹ ETF theo chỉ số S&P 500 cho bạn sở hữu một phần nhỏ của 500 công ty.
Quỹ tương hỗ (quỹ mở) là quỹ gom tiền của nhiều nhà đầu tư, do chuyên gia quản lý, để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc tiền gửi. Các quỹ chịu sự giám sát của cơ quan quản lý thị trường ở mỗi nước.
Ví như: Tham gia một nhóm mua chung, có chuyên gia đi chợ giúp.
Ví dụ thực tế: Quỹ thị trường tiền tệ đầu tư vào tiền gửi và trái phiếu ngắn hạn.
Quyền chọn là hợp đồng trao cho người nắm giữ quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, mua (quyền chọn mua, call) hoặc bán (quyền chọn bán, put) một tài sản ở mức giá định sẵn, trước một ngày định sẵn.
Ví như: Lượt giữ chỗ có trả phí, dùng hay không là tùy bạn.
Ví dụ thực tế: Quyền chọn mua cổ phiếu ở giá 100 USD có phí 5 USD. Nếu cổ phiếu tăng lên 120 USD, bạn lãi 15 USD; nếu giá vẫn dưới 100 USD, bạn chỉ mất 5 USD phí đó.
Rủi ro cháy tài khoản là khả năng một chuỗi thua lỗ làm tài khoản hao hụt đến mức không thể gỡ lại. Rủi ro cho mỗi lệnh càng lớn, khả năng này càng tăng vọt.
Ví như: Khả năng một cơn bão kéo dài nhấn chìm con thuyền.
Ví dụ thực tế: Ngay cả một chiến lược có lãi vẫn có thể làm cháy tài khoản nếu mỗi lệnh chịu rủi ro tới 20% tài khoản.
Sở giao dịch chứng khoán là thị trường có tổ chức, chịu sự giám sát của cơ quan quản lý, nơi cổ phiếu doanh nghiệp được niêm yết và giao dịch.
Ví như: Trung tâm thương mại chính thức dành cho cổ phiếu doanh nghiệp.
Ví dụ thực tế: Sở giao dịch chứng khoán New York, Sở giao dịch chứng khoán London, Sở giao dịch chứng khoán Indonesia (IDX), Sở giao dịch BMV của Mexico và Sở giao dịch chứng khoán Quốc gia Ấn Độ.
Spread (chênh lệch giá mua bán) là khoảng cách giữa giá bạn có thể mua vào (giá Ask) và giá bạn có thể bán ra (giá Bid). Mọi lệnh giao dịch đều chịu chi phí này.
Ví như: Phần quầy đổi tiền giữ lại cho mình.
Ví dụ thực tế: Nhà môi giới báo giá EUR/USD là 1,1248 (giá Bid) và 1,1250 (giá Ask). Khoảng chênh 2 pip chính là spread, và bạn trả khoản này ngay khi mở lệnh.
Stablecoin là đồng tiền mã hóa được thiết kế để giữ giá trị ổn định, thường ở mức 1 USD, và thông thường được bảo chứng bằng tài sản dự trữ như tiền mặt và trái phiếu ngắn hạn.
Ví như: Đồng xu chơi game ở khu vui chơi, lúc nào cũng phải đổi lại được đúng 1 USD.
Ví dụ thực tế: TerraUSD không có tài sản dự trữ thật sự đứng sau: đồng này mất mức neo 1 USD vào tháng 5/2022 và sụp đổ về gần 0.
Sukuk (trái phiếu Hồi giáo) là công cụ thay thế trái phiếu, tuân thủ luật Hồi giáo (sharia). Nhà đầu tư được chia thu nhập từ tài sản thực thay vì nhận lãi.
Ví như: Cùng bạn bè góp vốn mua chung một cửa hàng rồi chia nhau tiền cho thuê, thay vì cho vay lấy lãi.
Ví dụ thực tế: Nhiều chính phủ, từ Ả Rập Xê Út đến Malaysia, Indonesia và Anh, đã phát hành sukuk.
Tài sản trú ẩn an toàn là tài sản nhà đầu tư đổ tiền vào khi lo sợ, vì loại tài sản này thường giữ được giá trị: vàng, đồng USD, yên Nhật hay trái phiếu chính phủ Mỹ.
Ví như: Chiếc ô ai cũng vội vơ lấy khi trời đổ mưa.
Ví dụ thực tế: Tháng 3/2020, nhà đầu tư đổ xô mua đồng USD.
Tăng giá và mất giá tiền tệ là hai chiều biến động của một đồng tiền: đồng tiền tăng giá khi mạnh lên (đổi được nhiều ngoại tệ hơn) và mất giá khi yếu đi.
Ví như: Cùng một khoản tiền đi du lịch, năm nay mua được nhiều thứ ở nước ngoài hơn, năm sau lại mua được ít hơn.
Ví dụ thực tế: Từ năm 2022 đến năm 2024, yên Nhật mất giá: 1 USD từ chỗ đổi được khoảng 115 yên đã đổi được hơn 150 yên.
Tâm lý sợ thua lỗ là xu hướng thấy nỗi đau mất tiền mạnh gấp khoảng hai lần niềm vui khi lãi một khoản tương đương, khiến người ta giữ lệnh lỗ quá lâu.
Ví như: Đánh rơi một tờ tiền làm bạn mất vui cả ngày, còn nhặt được một tờ thì niềm vui chẳng kéo dài bằng.
Ví dụ thực tế: Không chịu bán cổ phiếu đang lỗ, cứ chờ “đến khi giá về lại”.
Thị trường là nơi người mua và người bán thỏa thuận giá cho những thứ như cổ phiếu, vàng hay tiền tệ, dù gặp nhau trực tiếp hay trực tuyến.
Ví như: Một khu chợ đông đúc, nơi người mua và người bán mặc cả cho đến khi ngã giá.
Ví dụ thực tế: Sở giao dịch chứng khoán New York là thị trường mua bán cổ phiếu doanh nghiệp. Thị trường forex thì không có tòa nhà nào cả: các ngân hàng giao dịch với nhau qua màn hình.
Tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi ngân hàng trong một thời hạn cố định (thường từ 1 đến 12 tháng) để hưởng lãi suất cao hơn tài khoản tiết kiệm. Còn gọi là tiết kiệm có kỳ hạn hoặc chứng chỉ tiền gửi (CD).
Ví như: Chiếc hộp tiền khóa kín mà bạn hứa một năm không mở, đổi lại được thưởng thêm vì chịu chờ.
Ví dụ thực tế: Gửi 5.000 USD kỳ hạn 12 tháng với lãi suất 4%, bạn nhận khoảng 200 USD tiền lãi trước thuế.
Tiền mã hóa là tài sản số được ghi nhận trên blockchain. Ở phần lớn các nước, tiền mã hóa được giao dịch như một loại tài sản chứ không phải phương tiện thanh toán hợp pháp, và quy định ở mỗi nước rất khác nhau.
Ví như: Những token kỹ thuật số được giao dịch như một loại hàng hóa biến động rất mạnh.
Ví dụ thực tế: Bitcoin giảm khoảng 75% từ đỉnh cuối năm 2021 đến cuối năm 2022.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị mọi hàng hóa và dịch vụ mà một quốc gia sản xuất ra trong một khoảng thời gian. Tốc độ tăng GDP cho biết nền kinh tế có đang mở rộng hay không.
Ví như: Độ lớn của cả chiếc bánh kinh tế.
Ví dụ thực tế: GDP của Indonesia tăng khoảng 5% mỗi năm trong hầu hết các năm từ năm 2014 đến năm 2024, nhưng giảm khoảng 2% trong năm đại dịch 2020.
Trái phiếu kho bạc Mỹ (Treasuries) là trái phiếu do chính phủ Mỹ phát hành. Mỗi nước có loại riêng: gilt ở Anh, Bund ở Đức, JGB ở Nhật Bản.
Ví như: Lời hứa có chữ ký của chính phủ sẽ trả lại tiền cho bạn, kèm tiền lãi trong suốt thời gian chờ.
Ví dụ thực tế: Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm là mức tham chiếu toàn cầu: lãi suất vay mua nhà và chi phí vay vốn ở nhiều nước thường biến động theo mức lợi suất này.
Trượt giá là chênh lệch giữa mức giá bạn dự tính và mức giá lệnh thực sự được khớp, thường gặp khi thị trường biến động nhanh.
Ví như: Giá trên kệ thay đổi ngay lúc bạn đang đi tới quầy thanh toán.
Ví dụ thực tế: Khi đồng franc Thụy Sĩ tăng vọt chỉ trong vài phút vào tháng 1/2015, nhiều lệnh cắt lỗ bị khớp ở mức giá tệ hơn rất nhiều so với dự kiến.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là lợi nhuận cả năm chia cho vốn chủ sở hữu. Chỉ số này cho biết công ty dùng tiền của chủ sở hữu để tạo ra lợi nhuận hiệu quả đến đâu.
Ví như: Đồng vốn của chủ đang “làm việc” chăm chỉ đến mức nào.
Ví dụ thực tế: Lợi nhuận 15 triệu USD trên vốn chủ sở hữu 100 triệu USD = ROE 15%.
Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) là bộ phận thuộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định lãi suất của Mỹ. FOMC họp tám lần mỗi năm và công bố quyết định lúc 14h (giờ New York).
Ví như: Ban giám khảo định lãi suất của Fed.
Ví dụ thực tế: Ngày 18/9/2024, FOMC hạ lãi suất 0,5 điểm phần trăm, lần hạ đầu tiên kể từ năm 2020.
Vay thế chấp mua nhà là khoản vay dài hạn để mua nhà, trả dần hằng tháng trong nhiều năm (thường từ 10 đến 30 năm), với chính căn nhà làm tài sản bảo đảm.
Ví như: Trả tiền thuê nhà cho ngân hàng, cho đến một ngày căn nhà hoàn toàn thuộc về bạn.
Ví dụ thực tế: Khoản vay mua nhà 300.000 USD trong 25 năm với lãi suất 6%/năm, tổng cộng phải trả khoảng 580.000 USD: riêng tiền lãi đã gần bằng số tiền vay.